Trị liệu ngôn ngữ cá nhân
phục hồi chức năng
Trị liệu giác quan (vị giác)
Tiết học tâm vận động
Can thiệp sớm theo nhóm lớp - thế mạnh của Sao Mai

Giảm nhẹ triệu chứng của loạn phát triển thần kinh ở trẻ em bằng phương pháp giải độc (phần1)

GIỚI THIỆU

Ô nhiễm môi trường là một vấn đề y tế cộng đồng nóng bỏng có tính cấp bách toàn cầu1 với nhiều hệ lụy tác động lên các chính phủ2, từng hộ gia đình, ảnh hưởng lên hệ thống cung ứng thực phẩm, hệ sinh thái3 cũng như sự tiến hóa của các sinh vật. Ô nhiễm môi trường bao gồm kim loại nặng như thủy ngân, chì, cadmium, Asen, thiếc, v.v… các vi hạt nano độc chất, vô số các hoát chất như dioxin, còn được biết đến là chất hữu cơ gây ô nhiễm trường diễn, và các thuốc bảo vệ thực vật, thuật ngữ chung để chỉ các chất dùng để diệt trừ sâu bệnh, cỏ dại, nấm mốc, các loài gặm nhấm có hại v.v… Các nguyên tố kim loại, ở nồng độ thấp, rất cần để hỗ trợ và duy trì vô số quá trình sinh lý và sinh hóa khác nhau trong cơ thể. Ở nồng độ cao, những chất này sẽ trở nên độc hại, gây ra sự mất cân bằng trong các hoạt động sống của cơ thể và gây chết tế bào. Sự hủy diệt tế bào cũng xảy ra khi nhiễm hóa chất hay thuốc bảo vệ thực vật. Một khi các chất độc gây ô nhiễm môi trường xâm nhập vào cơ thể, chúng sẽ được hấp thụ vào mô mỡ và ứ đọng ở đó trong một thời gian dài do tính bền vững hóa học của chúng. Mức độ ô nhiễm và lượng độc chất trong thế kỷ hiện tại có ảnh hưởng nguy hại đến duy trì thăng bằng nội môi của cơ thể con người; ảnh hưởng xấu đến não bộ, hệ thần kinh, phổi, thận, gan và các cơ quan khác4. Ô nhiễm thường hiện diện ở mức gấp từ 5-10 lần giới hạn cho phép của WHO5. Các kim loại nặng và hóa chất độc kể trên được tìm thấy trong hầm mỏ, nước thải công nghiệp, nước thải cống rảnh đô thị, các thuốc để kiểm soát sâu bệnh dùng cho mùa màng, v.v6 Chúng không mùi, không vị, và ngấm vào cơ thể qua bàn tay, mắt, miệng, phổi từ không khí, nước, và thức ăn. Ô nhiễm, nhất là các kim loại nặng và các hóa chất độc hại, xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của hệ thần kinh7,8. Ngày nay, cứ 4 đứa trẻ lại có 1 trường hợp nhiễm thủy ngân ở mức độ nguy hại cho cơ thể. Ước tính ở Mỹ, cứ 6 em bé lại có 1 em bị khiếm khuyết chức năng thần kinh9,10. Trong nghiên cứu hiện tại, nồng độ thủy ngân trong nước tiểu của trẻ bị rối loạn phát triển thần kinh cao hơn so với trẻ ở nhóm đối chứng11. Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra có sự tương quan chặt chẽ giữa nồng độ thủy ngân tăng cao với sự xuất hiện các triệu chứng rối loạn phát triển thần kinh12. Từ đây, xuất hiện một ý tưởng rằng việc sử dụng các sản phẩm chế phẩm hỗ trợ trong điều trị các triệu chứng trên là một phương án tiếp cận tích hợp giúp cải thiện tình trạng hiệu quả. Thật vậy, chế phẩm hỗ trợ có tiềm năng to lớn đối với việc làm giảm lượng độc chất trong cơ thể, làm giảm tối đa các tổn thương cũng như hạn chế thấp nhất sự nhiễm độc từ môi trường13. Trong nghiên cứu này, chứng tôi đánh giá hiệu quả của liệu pháp chế phẩm hỗ trợ đối với việc giải độc các chất gây ô nhiễm môi trường và mức độ triệu chứng hành vi ở trẻ em bị rối loạn phát triển thần kinh. Mối liên hệ giữa độ nặng của rối loạn phát triển thần kinh và nồng độ các chất độc trong môi trường được khảo sát; đồng thời, hiệu quả thải độc của Hai sản phẩm NDF và NDF Plus được bàn luận đến. Các thảo dược hỗ trợ con đường thải độc ở gan và nâng đỡ chức năng tuyến thượng thận được cấp cho đối tượng tham gia nghiên cứu kèm theo với các chế phẩm nói trên. Mỗi đối tượng tham gia được khảo sát trước khi tiến hành trị liệu và sau trị liệu 6 tuần bằng ATEC cũng như nồng độ porphyrin nước tiểu.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU 40 trẻ, tuổi từ 2 đến 14, có vấn đề về phát triển thần kinh ở những mức độ khác nhau được chọn lựa sơ khởi cho nghiên cứu này. Triệu chứng bao gồm: không tiếp xúc bằng mắt, bất thường về trí tuệ, mất tập trung, chán ăn, đổi vị mất hứng thú với món ăn yêu thích, thiếu hụt kỹ năng xã hội, không có khả năng làm theo chỉ dẫn, mệt mỏi thiếu sinh khí, không giao tiếp bằng lời, thâm quầng mắt, nhu động ruột chậm, thiếu cân, không có khả năng tưởng tượng, bất thường về cảm giác và hành vi tự kích thích bản thân. Đa phần các em đã được đưa tới tổ chức Generation Rescue14 (Giải cứu thế hệ). Mỗi đối tượng tham gia đều có sự tham vấn với gia đình và được sự đồng ý thể hiện bằng văn bản từ người giám hộ. Có 3 đối tượng tham gia được đưa ra khỏi nghiên cứu vì không tuân thủ theo hướng dẫn liều thuốc, không hoàn tất xét nghiệm prophyrin hay làm trắc nghiệm ATEC sau điều trị. Một đối tượng bị loại khỏi nghiên cứu vì không thể làm khảo sát theo dõi. Hai đối tượng bị gạch tên trước khi bắt đầu dùng sản phẩm giải độc vì bà mẹ nói “thời gian thực hiện không phù hợp”. Một đối tượng bị loại vì phải điều trị kháng sinh, được khẳng định qua kết quả của phòng thí nghiệm thuộc tổ chức Doctor’s Data là gây khó khăn cho việc xét nghiệm porphyrin. 34 đối tượng được đưa vào phân tích kết quả porphyrin, 33 trường hợp trải qua trắc nghiệm ATEC. 34 đối tượng nghiên cứu, gồm 30 nam và 4 nữ, được xếp vào các nhóm sau:
* Nhóm A: 9 đối tượng
* Nhóm B: 8 đối tượng
* Nhóm C: 6 đối tượng
* Nhóm D: 11 đối tượng

ATEC

Tất cả trẻ được khảo sát bằng trắc nghiệm ATEC, đo lường 4 lĩnh vực: I. Giao tiếp/Vận ngôn; II. Khả năng hòa nhập xã hội; III. Khả năng nhận thức/cảm giác; IV. Sức khỏe/thể chất/hành vi. ATEC được phát triển năm 1999 với vai trò là công cụ hỗ trợ các nhà nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các loại can thiệp khác nhau trên trẻ em và người lớn có rối loạn phát triển thần kinh.

XÉT NGHI ỆM PORPHYRIN NƯỚC TIỂU

Nồng độ porphyrin nước tiểu được xác định bằng bộ test của phòng thí nghiệm Doctor’s Data. Mỗi đối tượng nghiên cứu làm một xét nghiệm nền trước khi điều trị do bác sĩ gia đình trực tiếp quản lý cho chỉ định và một xét nghiệm lần hai theo dõi sau khi kết thúc 6 tuần can thiệp. “Porphyrin nước tiểu… sẽ ức chế các enzyme khác nhau trong con đường chuyển hóa heme và do đó sẽ gây ra sự khác biệt về dạng porphyrin tương ứng trong nước tiểu, việc phân tích sẽ giúp xác định biến đổi là do kim loại nào gây ra, cũng như mức độ nhiễm kim loại”.15 Nồng độ porphyrin trong nước tiểu cao gắn liền với rối loạn chuyển hóa, gia tăng stress oxi hóa, cũng như gắn liền với sự phơi nhiễm các độc chất và kim loại nặng. Mỗi chất chỉ điểm đại diện cho16,17:
Uroporphyrin: Nhôm, Asen, hexachlorobenzen, dioxin, PBB
Heptacarboxyporphyrin: Asen, dioxin, PBB, hexachlorobenzen
Hexacarboxyporphyrin: Asen, dioxin, hexachlorobenzen, PBB
Pentacarboxyporphyrin: Thủy ngân, Asen
Coproporphyrin I: Asen, methylchloride, PVC, PBB
Coproporphyrin III: Thủy ngân, chì, Asen, methylchloride, PVC, PBB
Porphyrin tổng cộng: Asen, dioxin, chì, thủy ngân, hexachlorobenzen, methylchloride, PVC, PBB
Precoproporphyrin tổng cộng: Thủy ngân
Tỷ số Precoproporphyrin/Uroporphyrin: dùng để xác định bất thường trên cá nhân có sự sinh tổng hợp heme thấp, có thể xảy ra trên trẻ em bị thiếu dinh dưỡng và tự kỷ. Mỗi loại kim loại nặng sẽ có các chất chỉ điểm sau:

Th ủy ngân: Pentacarboxyporphyrin, coproporphyrin III; Precoproporphyrin, và tỷ s ố Precoproporphyrin/Uroporphyrin
Asen: Uroporphyrin, Coproporphyrin I, và Coproporphyrin III
Lead: Coproporphyrin III
Hexachlorobenzen, Dioxin: Uroporphyrin
Methylchloride, PVC, PBB: Coproporphyrin I và Coproporphyrin III Lưu ý: nhiều loại thuốc và chất khác nhau có thể ức chế enzyme liên quan đến quá trình chuyển hóa porphyrin và ảnh hưởng đến nòng độ porphyrin nước tiểu. Những chất đó gồm cồn, thuốc ngủ, thuốc giảm đau, kháng sinh, estrogen, và thuốc ngừa thai uống. Thiếu máu, thai kỳ và bệnh gan cũng có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa porphyrin.18
TRỊ LI ỆU KÈM THEO Cả bốn nhóm A, B, C, D được cho dùng công thức thảo dược hỗ trợ gan Liver Life trong suốt thời gian nghiên cứu19. Ngoài ra, trẻ ở nhóm A, B và C dùng thêm công thức hỗ trợ chức năng thượng thận Loving Energy. Liver Life:
Từ 40 pound trở xuống: 166 mg (15 giọt hay 0.4 mL) 2 lần mỗi ngày
41-75 pound: 576 mg (2 ống nhỏ giọt hay 1.6 ml) 2 lần mỗi ngày
Trên 75 pound: 864 mg (3 ống nhỏ giọt hay 2.4 mL) 2 lần mỗi ngày Loving Energy:
Từ 40 pound trở xuống: 360 mg (1 ống nhỏ giọt hay 0.8 mL) 2 lần mỗi ngày
Từ 41-75 pound: 720 mg (2 ống nhỏ giọt hay 1.6 mL), 2 lần mỗi ngày
Trên 75 pound: 1080 mg (3 ống nhỏ giọt hay 2.4 mL), 2 lần mỗi ngày
CAN THI ỆP Đ ƯỢC SỬ DỤNG Sau khi làm trắc nghiệm ATEC và xét nghiệm porphyrin nước tiểu trước can thiệp, các cách thức can thiệp sau được tiến hành:
Nhóm A: NDF Plus

Nhóm B: NDF
Nhóm C: NDF và NFD Plus
Nhóm D: nhóm gi ả dược dùng hỗn dịch tảo lục Liều được cho dựa theo cân nặng: NDF Plus:
40 pound trở xuống: 34 mg (1 ống nhỏ giọt hay 0.8 mL) 2 lần mỗi ngày
41pound trở lên: 67 mg (2 ống nhỏ giọt hay 1.6 mL) 2 lần mỗi ngày NDF:
40 pound trở xuống: 48 mg (1 ống nhỏ giọt hay 0.8 mL) 2 lần mỗi ngày
41 pound trở lên: 96 mg (2 ống nhỏ giọt hay 1.6 mL) 2 lần mỗi ngày Hỗn dịch tảo lục:
40 pound trở xuống: 11 mg (1 ống nhỏ giọt hay 0.8 mL) 2 lần mỗi ngày
41 pound trở lên: 22 mg (2 ống nhỏ giọt hay 1.6 mL) 2 lần mỗi ngày Bố mẹ được hướng dẫn không thay đổi chế độ ăn của trẻ và không thực hiện những can thiệp nào khác trong suốt thời gian nghiên cứu. Chỉ thuốc giải độc tố được sử dụng cho các nhóm đối tượng.
KẾT QUẢ
PORPHYRIN N ƯỚC TIỂU: TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

Ở nhóm A, có giảm nồng độ pentacarboxyporphyrin và precoproporphyrin tổng cộng trong nước tiểu sau khi dùng NDF Plus, tỷ lệ thay đổi là từ 10 đến 13%. Ở nhóm này, lại thấy có sự gia tăng nồng độ uroporphyrin ( chênh lệch 28%), nồng độ tổng các loại porphyrin (thay đổi 5%), và coproporphyrin III (thay đổi 4%). Dựa theo kết quả nhóm B, mức độ giảm nhiều nhất được ghi nhận ở nồng độ tổng các dạng precoproporphyrin (giảm 23%) và uroporphyrin (giảm 20%), theo sau là pentacarboxyporphyrin (giảm 12%), coproporphyrin (giảm 4%), và porphyrin nói chung (giảm 3%).


Trong nhóm C, n ồng độ tổng các dạng precoproporphyrin giảm đáng kể sau khi sử dụng NDF và MDF Plus (giảm 45%) với trị số p là 0.004, theo sau là coproporphyrin (giảm 43%) với p=0.018, và tổng porphyrin (giảm 42%) với p=0.029. Kết quả tương tự được tìm thấy ở hai chất khác: uroporphyrin và pentacarboxyporphyrin với mức độ giảm 31%, nhưng giá trị p lần lượt chỉ ở mức 0.256 và 0.214. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm D, nhóm đối chứng, sử dụng hỗn dịch tảo lục.
ATEC (AUTISM TREATMENT EVALUATION CHECKLIST- B ẢNG KI ỂM TRA
ĐÁNH GIÁ ĐI ỀU TRỊ B ỆNH T Ự KỶ): TRƯỚC VÀ SAU Thang điểm ATEC được khảo sát trên 33/34 trẻ tham gia nghiên cứu ả trước và sau can thiệp. mức độ cải thiện trung bình với tất cả các đối tượng sau sử dụng chế phẩm hỗ trợlà 20% với p=0.048. Mức độ phục hồi nói chung ở nhóm A là 25%. Sự hồi phục mạnh mẽ nhất được ghi nhận trong lĩnh vực hòa nhập xã hội với 42%, theo sau là nhận thức/cảm giác (27%), sức khỏe/thể lực/hành vi (25%) và ngôn ngữ (5%). Ở nhóm B, sự cải thiện là 18%. Cải thiện nhiều nh ất là s ức kh ỏe/th ể l ực/hành vi v ới 26%, kế đến là hòa nhập xã hội (17%), nhận thức/cảm giác (14%), và ngôn ngữ (12%). Tương tự với nhóm A, nhóm C có kết quả phục hồi là 23%. Lĩnh vực cải thiện nhiều nhất ở nhóm này là hòa nhập xã hội với 35%, tiếp theo là sức khỏe/thể chất/hành vi 32%, cảm giác và nhận thức 17%, và ngôn ngữ 6%. Ở cả ba nhóm A, B và C, sự phục hồi đều rõ rệt khi so với nhóm D trên tổng số 4 trong 5 lĩnh vực được khảo sát gồm triệu chứng chung, hòa nhập xã hội, cảm giác/nhận thức, sức khỏe/thể chất/hành vi. Tất cả các nhóm đều ghi nhận thấy sự phục hồi nhẹ về mặt ngôn ngữ với nhóm B có tỷ lệ phục hồi cao nhất là 12%.



Khái quát kết qu ả nhóm A: (Trước – Trái; Sau – Phải): 8/9 trẻ có cải thiện. Mức cải thiện nhìn chung là 25%. Đánh giá trước can thiệp nhóm này có 2 trẻ được xếp ở mức độ nhẹ (chiếm 22%), 5 trẻ xếp vào mức trung bình (chiếm 56%), và 2 trẻ xếp vào mức nặng (chiếm 22%). Sau 6 tuần can thiệp, đánh giá cho thấy, nhóm có 3 trẻ xếp vào mức nhẹ (chiếm 33%), 6 trẻ xếp vào mức độ trung bình (chiếm 66%) và không còn trẻ nào được xếp vào mức nặng


 Phần 2

 

 

 


Tin khác

Video
Cách nhận biết trẻ tự kỷ
phim tài liệu nhận thức về trẻ tự kỷ
Vì sao trẻ bị tự kỷ?
Kỷ niệm 20 năm thành lập trung tâm Sao Mai
Bản đồ
Hình ảnh nổi bật
Tập thể cán bộ, giáo viên Trung tâm Sao Mai luôn đồng hành với trẻ tự kỷ, CPTTT